[Vu Sư] Ngàn dặm xa xăm

Thể loại linh dị thần quái, vu sư, thế giới giả tưởng, thời đại giả tưởng, tất tần tật đều là giả tưởng. Trong truyện sử dụng rất nhiều địa danh, nhân vật có thật trong lịch sử hoặc nhân vật trong truyền thuyết, tuy nhiên câu chuyện này không phải tuân theo bất kỳ sự kiện lịch sử hay một thời đại có thật nào, vì vậy mong mọi người chỉ đọc cho vui, không cần tra cứu bất cứ tư liệu nào.

Chú thích, thời đại này mọi người chỉ có tên, không có họ, mỗi người thường có hai cái tên, một là tên chính thức, hai là tên thường gọi hay tên thân mật chỉ có người thân thiết mới dùng đến

Bởi vì ý tưởng về thế giới vu sư này còn chưa hoàn chỉnh nên mình không thể tóm lượt một cách hệ thống cho mọi người dễ đọc được, cứ tạm chấp nhận vậy đi ^.^!!

…………………

Ải Chi Lăng(1)

Hoang sơ, mù mịt, cây rừng rậm rạp, bụi rậm cao ngang người. Đầm lầy khắp nơi, khí trời ẩm ướt, sương mù giăng giăng, đây đó tiếng vượn hót lanh lãnh cất lên càng tăng thêm cảm giác âm hàn bí ẩn của nơi này. Cao cao trên kia, đôi mắt quỷ dị của núi Mặt Quỷ vẫn trầm lặng nhìn xuống, như một lời nguyền muôn thuở cho kẻ có ý định xâm lấn nơi đây.

Mặt đường Cái Quan phủ đầy cỏ dại cùng gai góc, qua trận chinh chiến càng bị giày xéo tơi bời xơ xác, cây cối ven đường chìa ra những cánh tay khô gầy trơ trọi, đọ sức với gió, với sương, thế nhưng lại vẫn hiên ngang đứng đó chưa từng ngã gục.

Đột nhiên, có tiếng vó ngựa vang vang, một tiếng, hai tiếng, sau đó ngày càng nhiều

Đó là đội quân chừng hai ngàn người, đội ngũ không trật tự, áo giáp tả tơi, sắc mặt tái nhợt. Bọn họ trên người đều là thương tích, những dấu máu chưa khô, những vết cắt còn hằn rõ, có người siết cương chịu đựng, có người gục lên lưng đồng bạn, có người đã không còn tỉnh táo. Dù vậy, vó ngựa dưới chân vẫn kiên cường tiến tới, vũ khí trên tay vẫn bền bỉ nắm chặt, lá cờ Kinh Trường với thanh kiếm đen ở giữa dù đã loang lỗ vết thương vẫn một mực giương cao, phất phơ trong gió. Một chút nữa thôi, sắp tới rồi, chỉ một chút nữa …

Ngõ Thề đã hiện ra, thấp thoáng có thể nhìn thấy những thành lũy nhô cao cùng vô số trận pháp lập lòe phát sáng. Đoàn quân viễn chinh ngước mắt nhìn lên, trên mặt đều là vui sướng như được hồi sinh. Về đến rồi! bọn họ thực sự sống sót trở về. Quê hương … tôi trở về rồi …

Có ai đó vừa rơi nước mắt

Có ai đó không kìm được tiếng nghẹn ngào

Có ai đó vừa bưng mặt khóc

Có ai đó cố sức bật cười ………………

“Cám ơn” Một thương binh cố giương mi mắt nặng trĩu, từ trên vai đồng đội nhìn hàng thành lũy xa xa, thì thầm nói, một giọt lệ chậm rãi chảy xuôi

“Cố chút nữa, qua lũy rồi anh có thể ra đi” Người đồng đội phía trước giơ tay giữ lại thân hình mềm rũ của người sau, nén nước mắt động viên.

“Ừ, tốt rồi” Người kia lại khe khẽ đáp, hơi thở đã sắp cạn

Cùng một lúc này, rải rác trong đoàn quân có rất nhiều những câu trao đổi tương tự diễn ra. Bọn họ đều sức cùng lực kiệt, rất nhiều người đã lâm vào hấp hối, chỉ là một chút chấp niệm được chết trên quê nhà giữ cho họ tiếp tục thở, tiếp tục chịu đựng.

Mà, ở đầu đoàn quân, vị lạc tướng trẻ tuổi cũng rưng rưng ngước nhìn thành lũy xa xa, thương tích cùng hết thảy chật vật trên người đều không sao che đi ánh sáng trên hai mắt chàng. Đôi mắt chứa đầy vui mừng khó tin của kẻ từ cõi chết trở về. Một chuyến đi này đã dự trước không còn đường quay lại. Một cuộc viễn chinh vốn không định ngày về. Vậy mà, chàng vẫn có thể về … Ngâu … tôi đã về ………. Ngâu … tôi nhớ nàng …….

Âu Lạc lịch năm bảy trăm tám mươi hai, đầu xuân, tiên giả phương Bắc lại Nam tiến xâm phạm lãnh thổ Đại Việt. Thần Sơn Điện Sơn Tinh Nhan Cội (2) cùng Lạc Thủy Cung Thủy Tinh Lang Xuy trở lại Đại Tế Đàn ở Cổ Loa cùng An Dương Vương bàn luận kế sách, quyết chiến với giặc.

Đại Việt chia quân làm hai do hai vị Thần Tinh dẫn đầu, hỗ trợ nhau kiềm giữ chủ lực của phe tiên giả, khiến chúng không dư lực đi phá hủy các chiến lũy rải rác khắp nước Nam, sau đó dùng kế dụ địch toàn lực tấn công Đại Tế Đàn, quyết một trận cuối cùng. Trong khi đó, Kinh Trường lạc tướng tự nguyện nhận một nhiệm vụ cảm tử, bí mật dẫn quân đánh úp Vạn Linh Cốc, một trong ngũ đại phái tu tiên của người Bắc nằm gần biên giới với Đại Việt, phá hủy cứ điểm tập kết quan trọng của chúng, khiến cho khả năng cầm cự của giặc giảm đi đáng kể.

Kinh Trường lên đường, chia tay vu nữ Châu Nghi vợ mình cùng thai nhi bốn tháng trong bụng nàng, quyết tuyệt ra đi. Ngày ấy, ngoài cửa Tràng An, chàng chỉ kịp nói một tiếng “Giữ gìn sức khỏe” rồi giục ngựa lên đường, không một câu hứa hẹn, không một lời giã từ. Chợt nhớ ra, dường như, mình vẫn còn nợ nàng một lời xin lỗi.

Suốt sáu tháng nay, tập kích đắc thủ, rút lui, lại vượt qua trên dưới trăm trận bị địch chặn đánh, vây giết, năm ngàn vu quân dẫn đi giờ chỉ còn không đến một nửa, rất nhiều người đã không có khả năng qua khỏi. Kinh Trường vẫn chưa từng buông bỏ, một giây cũng không hề thả lỏng. Chàng muốn trở về, muốn cùng nàng nói lời xin lỗi. Nợ nước non trả bằng máu thịt, nợ người giai ngẫu biết lấy gì đền?

Uuuuuuu …..

Tiếng loa thăm thẳm vang lên từ trong lũy, âm thanh trầm thấp, nặng nề, thảng thốt. Trên thành lũy, một vài người xuất hiện nhìn ra ngoài. Sau khi nhìn thấy cờ hiệu của đoàn quân đang đến, một người trong đó mừng rỡ hét to “Kinh Trường lạc tướng trở về. Kinh Trường lạc tướng trở về. Mau mở cửa … mau mở cửa …..”

Sau đó, trong lũy như vỡ òa, vô số âm thanh vui sướng vang lên dồn dập. Hai cánh cửa đá nặng nề chậm rãi tách ra, để lộ con đường lát đá trải dài xuống phương Nam, thừng trận(3) chuyển mình, chào đón những anh hùng viễn chinh trở lại.

Đoàn quân không hề giảm tốc độ, vùn vụt phóng qua cửa lũy, vào thẳng bên trong, gió lốc theo sau thổi tung lá cờ Lang Thanh bay lên phần phật, chiếc chuông nhỏ treo trên đuôi cờ vang lên âm thanh lanh lảnh. Kinh Trường dẫn đầu ghìm cương, chiến mã phía sau cũng nhịp nhàng dừng lại. Binh lính cùng tướng lĩnh trong lũy xếp thành một vòng xung quanh bọn họ, kính ngưỡng và vui sướng nhìn lên.

Kinh Trường nhìn quanh một vòng, thấy được phía đông có một nhóm ba người đang chậm rãi đi đến, người ở giữa được hai người kia dìu đỡ là một cô gái tuổi ngoài hai mươi, làn da ngăm ngăm, vóc dáng thanh mảnh, trên người mặc khinh giáp màu đồng đen, chính là Lang Thanh lạc tướng trấn giữa lũy này.

Kinh Trường vội xuống ngựa, bước nhanh đến đón

“Kinh Trường lạc tướng, chào mừng trở về” Lang Thanh nghẹn giọng lên tiếng, vui mừng khôn xiết rồi không kìm được nước mắt lăn dài

Kinh Trường mỉm cười, vết thương dữ tợn từ vành tai vắt lên đuôi mày run run “Tôi đã trở lại, lạc tướng đang bị thường, đừng khóc”

Đáng tiếc, lời của chàng chẳng có chút tác dụng, Lang Thanh nghe xong càng khóc không ngừng. Kinh Trường xấu hổ, vội hỏi “Đại Tế Đàn và Tràng An ra sao rồi?”

Nhắc đến chính sự, Lang Thanh liền lấy lại tinh thần, lau nước mắt đáp “Tôi không rõ lắm, chúng tôi đã không liên lạc được với Đại Tế Đàn gần mười ngày rồi, dường như vu trận bên kia bị hư hỏng”

Kinh Trường nhíu đôi mày anh tuấn, lại hỏi “Chỗ này bị tấn công mấy lần? Thế giặc ra sao?”

“Chúng tôi bị công ba lần, thế giặc không mạnh lắm, chỉ đánh cầm chân, sau đó thì không thấy đến nữa, thừng trận đều đã sửa lại, nếu chúng đánh tiếp vẫn có thể chống trả”

“Ừ, vậy tôi lập tức về Đại Tế Đàn” Kinh Trường quyết đoán nói, quay đầu nhìn những vu binh(4) vẫn yên lặng ngồi trên lưng ngựa, giọng nói bất giác mềm hơn “Những vu binh bị thương phiền lạc tướng chăm sóc giúp. Những người chết trên đất khách, đợi yên ổn chúng ta lại đi tìm về”

Lang Thanh gật đầu, nghiêm túc đáp “Lạc tướng yên tâm, tôi cam đoan sẽ làm hết sức mình, ngài cùng bọn họ đều là anh hùng của non sông này, Lang Thanh kính ngưỡng”

Kinh Trường khẽ gật đầu, giơ tay ra hiệu cho đoàn quân của mình. Lúc này bọ họ mới bắt đầu xuống ngựa.

Người vu binh nhẹ nhàng đỡ đồng đội sau lưng xuống, đặt anh nằm trên đất, cẩn thận chỉnh lại tư thế của anh cho ngay ngắn, mỉm cười nói “Đã về đến rồi, anh yên lòng ra đi, đợi tôi từ Tràng An trở lại sẽ đưa anh về làng”

Người vu binh trên đất đã không còn hơi thở, hai mắt an tường nhắm lại, lưng đặt trên đất mẹ, bình thản ra đi. Bên cạnh anh, một vu binh khác cũng được đặt xuống, cũng được chỉnh lại tư thế, cũng được người đồng đội dặn dò yên tâm. Xung quanh anh, có đến hơn trăm người nằm cùng một tư thế như vậy.Tuổi xuân trả cho non sông, thân xác gửi về đất mẹ, linh hồn bình thản bay cao.

Thương binh đều phải ở lại Lũy Thề, cuối cùng chỉ còn lại không đến tám trăm người có thể theo sau Kinh Trường tiếp tục xuôi Nam. Trên đường, Kinh Trường ghé lại Lũy Cỏ, Lũy Hành, Lũy Vạn, Lũy Bút, phát hiện tất cả đều có tình trạng tương tự như Lũy Thề, tuy rằng có hư hại nhưng vẫn đứng vững, trong lòng dần dần thả lỏng theo. Các lũy đều còn, vậy thì đại vu trận bảo hộ toàn nước Nam vẫn còn vững vàng, kinh đô và Đại Tế Đàn nhất định cũng không có việc gì.

Sau hơn ba ngày, cuối cùng cũng về đến Cổ Loa.

Tòa cổ thành gần trăm tuổi vẫn sừng sững đứng đó, xung quanh là một vùng hoang địa. Con kênh bao quanh đã bị oanh tạc không còn hình dạng, mặt đất bị cày xới tung tóe, những đoạn dây thừng kim sắc chôn sâu bên dưới lộ ra vài phần, lập lòe phát sáng dưới ánh hoàng hôn. Rải rác trên mặt đất là những hố đất to như cái ao nhỏ, chính là vết tích còn lại sau khi một nút thắt của thừng trận bị phá. Ở phía Đông Bắc tòa thành có một cái hố đặc biệt lớn, toàn bộ nút thắt thừng trận trong đó đều bị phá hủy. Theo trí nhớ của Kinh Trường, đó là khu vực vu trận làm nhiệm vụ liên lạc giữa Đại Tế Đàn và các chiến lũy, nó bị hủy mới dẫn đến các nơi mất đi liên lạc. Chàng khẽ cười, đoán được tiên giả phương Bắc hẳn là lại nhầm khu vực này thành trọng điểm của vu trận, nỗ lực phá hủy. Đáng tiếc, chỗ đó tuy rằng lớn lại là phần phụ, đối với vu trận không có nhiều ảnh hưởng, tốn công tốn sức, hy sinh đại giới phá nó lại chỉ là công cốc, bại trận cũng là chuyện hiển nhiên. Người phương Bắc đánh xuống phương Nam nhiều lần như vậy vẫn chưa hiểu được hết cách bố trí thừng trận, mỗi lần đều bị lừa.

Tiếng kèn ốc trầm trầm vang lên trên tường thành, vu binh canh giữ đã phát hiện nhóm người mới đến. Kinh Trường phất tay với những người theo sau, một người trong số đó cẩn thận gỡ cán cờ vẫn đeo bên hông chiến mã của mình, hăng hái phất cao. Lá cờ Kinh Trường màu nâu nhạt dệt bằng sợi lanh, hình thanh gươm đen tuyền ở giữa do đích thân Châu Nghi vu nữ thêu lên giờ đây đã rách mất vài mảnh, lộ ra một chút hung hiểm của những cuộc chiến nó đã trải qua.

Cờ vừa phất lên, tiếng kèn ốc trên thành lỗi nhịp, một vài tiếng la hét của vu binh trong thành thậm chí Kinh Trường đứng xa cả dặm cũng nghe thấy. Chàng hơi cười, cảm nhận sâu sắc tất cả những gì mình làm đều đáng giá.

Rất nhanh chóng, đại vu trận chuyển mình, bức tường vô hình phòng thủ xung quanh tách ra một lối đi nhỏ dẫn đến cổng chính. Kinh Trường thúc ngựa, dẫn đoàn quân theo sau tiến vào Cổ Loa. Tới gần cổng thành, từ xa đã nhìn thấy một đoàn người đứng đó chờ đợi

Đứng đầu là một hàng ba người, An Dương Vương Thục Phán, Sơn Tinh Nhan Cội(4), Thủy Tinh Lang Xuy, sau nữa là những lạc hầu, lạc tướng và vu sư đứng đầu ba thế lực lớn nhất Đại Việt, tất cả đều vô cùng vui mừng chào đón chàng trở về. Thế nhưng, trong hàng ngũ đó lại không có bóng dáng nàng Ngâu – vu nữ Châu Nghi. Kinh Trường nhíu máy, rồi lại nhanh chóng thả lỏng. Tính thời gian thì bây giờ con chàng vừa ra đời không lâu, Châu Nghi hẳn vẫn đáng ở cử không thể ra ngoài. Nghĩ đến đây, tâm trạng Kinh Trường lại càng nôn nóng, muốn nhanh chóng nhìn thấy mẹ con nàng.

“Kinh Trường, chào mừng trở về” Thục Phán bước lên trước, giang hai tay đón chào vị anh hùng trở lại

Kinh Trường xuống ngựa, cúi mình chào “Vương, Sơn Tinh, Thủy Tinh, tôi đã trở lại”

“Tốt, trở lại là tốt rồi” Nhan Cội tiến đến đỡ Kinh Trường đứng thẳng, vỗ vỗ vai chàng, trong giọng nói có một cảm xúc khó tả.

Trong hàng ngũ vu sư phía sau Lang Xuy bước ra một người, mỉm cười ôm vai Kinh Trường, đó là Thanh Duy, người bạn thân nhất của chàng. Kinh Trường rất ngạc nhiên, cái tên trời đánh thánh vật này hôm nay thật kỳ lạ, không trêu chọc không nói đùa, biểu tình trên mặt thật khó đặt tên. Trong lòng dâng lên cảm giác bất an, chàng gắng gượng cười một tiếng nói “Cuội hôm nay sao thế?”

Có tiếng người bật khóc, cũng có vài tiếng khe khẽ thở dài. Kinh Trường không hiểu, ngước nhìn hết một lượt. Vài ba vu nữ đang ôm mặt khóc, số còn lại đều cúi đầu

“Rốt cuộc có chuyện gì? Châu Giang, em nói đi?” Kinh Trường tìm kiếm một lượt, nhìn thấy người em gái thân thiết nhất của Châu Nghi, vội vàng hỏi. Châu Giang là một người rất cứng rắn và thẳng thắn, nhất định sẽ không giấu giếm chàng.

Quả nhiên, Châu Giang nhìn Kinh Trường một cái, ánh mắt đó nửa như oán giận, nửa như thương xót, nàng thở ra một hơi, nhàn nhạt nói “Anh mau về Lũy Tình đi, con trai anh đã ra đời rồi”

“Vậy …” Kinh Trường nói được một chữ rồi nghẹn lại, chàng không dám hỏi tiếp, cố giữ cho mình chút hy vọng mong manh sót lại.

“Đi đi” Lang Xuy nhẹ vỗ vai Kinh Trường, nói một tiếng

Kinh Trường quay đầu nhìn, Lang Xuy vội tránh ánh mắt chàng, Kinh Trường lại thêm hoảng hốt, nhìn khắp mọi người một lượt, đáp lại đều là những cái đầu cúi thấp cùng tiếng nấc nghẹn nho nhỏ. Chàng không hiểu. Ngay cả người gần như cầm chắc cái chết như chàng cũng có thể trở về. Vì cái gì … vì cái gì … Ai nói cho chàng biết, vì cái gì?

Lảo đảo lùi một bước, gạt đi cánh tay định đỡ mình của Thanh Duy, Kinh Trường quay đầu, vụt mình lên ngựa, vòng ngược ra khỏi thành. Bọn họ đều đang gạt chàng, Châu Nghi nhất định đang ở nhà đợi chàng. Là vì chàng đi mà không lời từ biệt nên nàng giận dỗi chăng? Nên nàng bảo mọi người gạt chàng chẳng? Ngâu, xin lỗi, tôi biết mình sai rồi, nàng đừng giận, tôi lập tức trở về, lập tức ….

Thục Phán lại thở dài, nói với Thanh Duy “Cuội đi theo cậu ấy đi … tôi lo …”

“Được” Thanh Duy không chút do dự lập tức gật đầu, tay phải lật một cái, lòng bàn tay xuất hiện một chiếc lá đa xanh biếc. Chàng phóng chiếc lá ra ngoài, nó biến hình phồng lớn như một chiếc thuyền nhỏ. Thanh Duy ngồi lên nó, chiếc lá liền bay vút đi, theo sau Kinh Trường ở xa xa.

……

Chiến mã oai hùng lại lần nữa lên đường xuôi Nam, không chút ngừng nghỉ. Xuyên qua từng cánh rừng bạt ngàn, những ngọn núi cao vút, những con sông sâu thẳm. Vượt qua đồng bằng, trèo qua cao nguyên, lội qua đầm lầy, lao đi vun vút giữ tiếng gió Trường Sơn thét gào. Càng về gần phương Nam, nỗi sợ hãi càng lớn dần trong lòng Kinh Trường, giống như hồng thủy dâng cao, từng chút từng chút che lấp hết thảy, phá vỡ từng đạo từng đạo phòng tuyến trong lòng chàng, chạm đến nơi yếu mềm nhất, nghiền nát chàng thành mảnh vụn. Nhưng mà, chàng vẫn không một lần tạm dừng, không một lần giảm tốc độ.

Đến ngày thứ chín, chàng về đến Lũy Tình.

Ngọn núi Thác Đàn vẫn cao vút như thế, ngôi nhà sàn trên đỉnh vẫn nằm đó, từ xa cũng có thể nhìn thấy mái chòi nho nhỏ cheo leo trên vách đá, nơi chàng và Châu Nghi thích ngồi cùng nhau ngắm mặt trời lặn. Và, Kinh Trường siết chặt dây cương. Châu Nghi đang đứng đó, nàng đang đứng đó đợi chàng về, bóng nàng in thật đậm trên nền trời hoàng hôn đỏ rực, lẳng lặng ngóng về phương Bắc.

Kinh Trường vui sướng gọi to một tiếng tên nàng, giục chiến mã chạy nhanh hơn. Lũy Tình đã ở ngay trước mặt, người trong lũy thấy chàng lập tức nhận ra, vội vàng mở cửa lũy đón chàng vào.

“Lạc tướng đã về” Người lính già giữ cổng khom minh rưng rưng nói.

Kinh Trường xuống ngựa, giao cương cho người lính đến đón, cười nói “Mọi chuyện trong lũy vẫn tốt chứ?”

Mấy vu binh đến đón đều sững người, ngơ ngác nhìn lại chàng. Kinh Trương khó hiểu, lại hỏi “Như thế nào? Vừa rồi ta thấy Châu Nghi đứng trên đỉnh Thác Đàn, nàng ấy đang ở cử, đứng ngoài gió như thế mà không ai ngăn cản sao?”

Mấy vu binh đưa mắt nhìn nhau, cúi đầu không ai dám đáp. Kinh Trường nhíu mày, chàng tức giận quát “Nói đi”

Đúng lúc này, Thanh Duy hạ xuống bên cạnh chàng, vỗ vỗ vai Kinh Trường nói “Đừng như vậy, anh mau đi thăm Châu Nghi đi”

Kinh Trường quay nhìn Thanh Duy, lại nhận được một ánh mắt trốn tránh. Tức giận trong lòng Kinh Trường càng dâng cao. Châu Nghi rõ ràng còn ở đó, bọn họ vẫn muốn gạt chàng sao? Gạt bàn tay Thanh Duy đang đặt trên vai mình đi, chàng không nói không rằng cất bước đi về núi Thanh Đàn.

Ngọn núi cao hơn ngàn thước rất nhanh đã lên đến đỉnh. Kinh Trường hít sâu một hơi, nghĩ đến lập tức có thể nhìn thấy Châu Nghi cùng con, chàng hưng phấn đến khó kìm được, bước chân cũng mau hơn. Lên thang, chàng đã nhìn thấy bếp lửa giữa nhà đang tí tách cháy, trên mặt lò còn đặt một nồi gốm. Cạnh bếp lửa, một bà cụ ngồi đó, trên tay bế theo một đứa bé. Bà mặc váy áo màu đen, tóc dài chạm đất, không vấn lên mà buộc lại bằng một sợi dây vải nhỏ. Nghe tiếng bước chân, bà nhìn ra

Kinh Trường ngạc nhiên dừng bước, khoanh tay khom mình “Thưa Cố Bình, con mới về”

Cố Bình lặng nhìn chàng thật lâu, khóe môi khô cằn run run, khàn khàn cất giọng “Về rồi … về rồi … Tốt lắm …”

“Thưa cố, sao cố lại ở đây? Đứa bé …?” Kinh Trường nhìn chằm chằm đứa bé trên tay Cố Bình

Cố Bình cúi đầu nhìn đứa bé đang ngủ say, dịu dàng nói “Đây là Trường Chinh, con trai của anh đấy”

Kinh Trường mừng rỡ quỳ ngay xuống cạnh bếp lửa, muốn bế đứa bé. Cố Bình cẩn thận trao nó cho chàng, từ tốn nói “Anh đã về thì mau đi thăm Châu Nghi, nàng đợi anh đã lâu rồi”

“Vâng”

Kinh Trường đón lấy con trai, vui mừng ra hông nhà đi tìm Châu Nghi. Cố Bình vẫn ngồi tại chỗ, đợi chàng đi rồi mới nhè nhẹ thở dài một tiếng, chậm rãi đứng dậy đi theo. Cụ vừa đến cửa nhà đã nghe tiếng Kinh Trường gào lên tê tâm liệt phế, kế đó là tiếng Thanh Duy đang cố ngăn Kinh Trường làm chuyện rồ dại, tiếp theo là tiếng Trường Chinh oa oa khóc thét lên. Cố Bình cố giữ bình tĩnh rồi vẫn không cầm được nước mắt. Cụ đưa tay gạt hàng lệ trên mặt, nhanh chân bước ra.

Cheo leo bên vách đá, trong căn chòi do Kinh Trường tự tay xây thành bằng gỗ cây Chiên Đàn tốt nhất, Châu Nghi đứng đó, mỏi mắt trông về phương Bắc. Nàng vẫn xinh đẹp như vậy, dịu hiền như vậy, chỉ là, thân người đã hóa đá, lạnh băng không chút sức sống. Kinh Trường ôm con quỳ gục ở sau nàng, run rẩy giằng co với Thanh Duy, muốn chạy đến bên Châu Nghi. Chàng khóc, gào khóc như thể tất cả thế giới đều sụp đổ quanh mình. Lúc nhận nhiệm vụ không có đường về, chàng không chút sợ hãi, lúc bị vây giữa muôn trùng kẻ địch, chàng chưa từng lui bước, khi từng người từng người đồng đội ngã xuống bên cạnh, chàng vẫn kiên cường tiếp tục chiến đấu. Thế nhưng bây giờ, tất cả đều đổ nát. Trái tim chàng, linh hồn chàng, dũng cảm của chàng, tất cả tất cả đều sụp đổ.

“Tại sao lại như vậy? Châu Nghi … tôi đã về rồi … tại sao … tại sao không đợi tôi … tại sao … Ngâu … Ngâu …” Kinh Trường như phát rồ, chàng gào thét, điên cuồng vùng vẫy khỏi tay Thanh Duy, muốn chạy đến cạnh người vợ chàng quý trọng nhất. Ai nói cho chàng biết, tại sao lại trở thành như vậy? Chàng chỉ là đi một chuyến, vì sao lại trở thành mãi mãi chia ly? Ai nói cho chàng biết, chàng vượt qua muôn trùng nguy biến trở về lại không thể cùng nàng trùng phùng? Vì sao? Vì sao? Chàng không hiểu, không cách nào hiểu, không cách nào chấp nhận.

Đứa bé được Kinh Trường ôm chặt trong ngực dường như hiểu được thống khổ của cha, tiếng khóc tức tưởi vang lên không ngừng. Thanh Duy cố ngăn Kinh Trường xông vào vu trận, luôn miệng khuyên nhũ “Trường … Trường … đừng như vậy, anh bình tĩnh lại, anh còn phải chăm sóc con trai, anh không thể như vậy, bình tĩnh một chút … Trường … Trường …”

Cố Bình tựa đầu lên cửa nhìn một cảnh này, nước mắt không kìm được lại tuôn dài. Nửa năm trước, khi Kinh Trường nhận lệnh xuất chinh, không ai nghĩ chàng có thể quay về. Châu Nghi tiễn chàng đi mà không khóc dù chỉ một lần. Nàng lẳng lặng nhìn chàng lên ngựa, dần dần đi khuất rồi mới trở về. Vì Châu Nghi đang mang thai, An Dương Vương khuyên nàng trở về lũy Tình tịnh dưỡng. Lũy Tình ở sâu về phía Nam, không có khả năng bị giặc Bắc tấn công. Châu Nghi trở về, mỗi ngày đều ngồi trong căn chòi này ngóng về phương Bắc, chờ đợi người chồng không hứa trở lại.

Không may, người Mun ở phía Tây đột nhiên hợp mưu cùng người Bắc, tấn công các đồn lũy phía Nam. Châu Nghi vừa sinh con trai không quá ba ngày phải dẫn quân nghênh chiến. Nàng vừa vượt cạn thân thể lẫn vu lực đều yếu ớt, dễ dàng bị đánh bại. Nếu không phải vu nữ Thụy Bình, bà cố của Kinh Trường vừa lúc chạy đến, chỉ sợ Lũy Tình đã thất thủ. Đáng tiếc, Châu Nghi không qua khỏi. Trước khi ra đi, nàng giao con trai lại cho Cố Bình chăm sóc, đặt tên là Trường Chinh, sau đó tự mình bày ra vu trận nơi này, đem thân thể hóa thành đá, vĩnh viễn chờ đợi Kinh Trường. Một mảnh tình này, khiến người người đều nghiêng mình kính ngưỡng.

Nào hay, Kinh Trường trở lại, một người trong lòng mọi người đều nghĩ đã chết lại quay về, khó có thể nói được đối với chàng là may hay là rủi. Mọi người vui mừng, rồi lại không nhịn được chua xót. Xót cho Châu Nghi, lại càng xót cho Kinh Trường. Lũy này gọi là lũy Tình, chính là do Kinh Trường sau khi cưới Châu Nghi thì sửa lại tên, chính là nói cho mọi người biết, chàng đối với vợ mình có bao nhiêu yêu thương quý trọng. Vận nước nguy nan, Kinh Trường quyết tuyệt ra đi, Châu Nghi chưa từng ngăn cản, phần hy sinh này càng khiến mối tình của họ thêm phần sâu sắc đáng trân trọng. Kinh Trường trở về, nợ nước trả xong, lại vĩnh viễn mất đi người quan trọng nhất, thử hỏi thế gian có gì đau xót bằng? Vậy nhưng, ngoại trừ khóc cho đôi phu thê khổ mệnh, lại còn có thể làm gì?

Cố Bình gạt nước mắt, bước lại vỗ vỗ đầu Kinh Trường, giống như khi chàng còn bé bà vẫn hay dỗ dành, giữ cho giọng mình tỉnh táo nói “Anh khóc thì có ích gì? Lòng anh khổ sở mọi người đều biết, nhưng mà Châu Nghi đi rồi, Lũy Tình vẫn còn, Trường Chinh con anh vẫn còn, trách nhiệm của anh vẫn còn. Anh đi theo nàng, Lũy Tình phải làm sao? Con anh phải làm sao? Anh có hiểu hay không? Anh còn phải tiếp tục sống, sống cả phần của Châu Nghi, đem con anh nuôi lớn, đem trách nhiệm của một lạc tướng làm cho xong, sau đó anh đi đâu, làm gì, sẽ không có người cản anh”

Kinh Trường nghe xong quỳ gục xuống, ôm chân Cố Bình khóc rống nhưng không tiếp tục muốn chạy qua Châu Nghi nữa. Thanh Duy buông tay, ngồi xuống cạnh chàng vỗ vai an ủi, lại không biết phải nói gì. Cố Bình vuốt tóc Kinh Trường, gỡ Trường Chinh khỏi tay chàng, nhẹ nhàng dỗ dành đứa bé nói “Cố biết đối với anh như vậy rất khó khăn, nhưng đất nước vừa qua chiến tranh, kẻ mất đi thân nhân cũng không phải một mình anh, thân là lạc tướng, nếu anh ngã gục thì người dưới phải làm sao? Anh đi một chuyến đã định sẽ hi sinh cho đất nước, Châu Nghi cũng là hy sinh để bảo vệ non sông. Châu Nghi không vì anh đi mà suy sụp, anh một gã đàn ông lại không chống đỡ được, còn mặt mũi nào đi tìm nàng? Nếu anh hiểu lời cố nói thì đừng bi lụy nữa.”

Kinh Trường nức nở một hồi mới tìm lại được giọng nói của mình, khó khăn lên tiếng “Con hiểu, xin cố an tâm”

Cố Bình cảm thấy Kinh Trường đã ổn, gật đầu rồi ẵm theo Trường Chinh trở lại trong nhà. Kinh Trường vẫn quỳ ở đó, quay người nhìn hình dáng Châu Nghi, vỗ vỗ bàn tay Thanh Duy đang đặt trên vai mình nói “Cám ơn Cuội, anh không sao rồi. Em quay lại Cổ Loa chuyển lời với ba vị đại nhân chỗ này đều ổn, đợi anh sắp xếp lại Lũy Tình rồi sẽ về kinh phục mệnh”

Thanh Duy thở dài, gật đầu nói “Được rồi, anh nhớ giữ gìn sức khỏe, nếu không chịu được thì tìm em nói chuyện, không cần một mình chịu đựng”

Kinh Trường khẽ gật đầu, không nói. Thanh Duy cũng hiểu lúc này nên để Kinh Trường yên tĩnh một mình, chỉ cần qua cơn xúc động ban đâu, người lạc tướng oai hùng này nhất định có thể bình tĩnh mà tiếp nhận sự thực. Chàng đứng dậy, vào trong tạm biệt Cố Bình cùng Trường Chinh rồi lặng lẽ quay về. Lúc bay lên cao, Thanh Duy đưa mắt nhìn lại đỉnh Thác Đàn, bóng dáng ngóng trông của Châu Nghi cùng Kinh Trường đang quỳ sau lưng nàng như lồng vào nhau, nói là chia xa, họ lại kề cận, nói là bên nhau, nhưng lại chỉ có một người tưởng nhớ. Duyên phận con người, đứng trước vòng quay của lịch sử mỏng manh như cơn gió, thoáng cái đã bị nghiền nát không còn, mà bọn họ, những con người sống giữa sự xoay chuyển đó, nào có quyền định đoạt số mệnh mình. Cho dù vậy, một thoáng mong manh này, lại chính là thứ đẹp đẽ người người ao ước có được. Biết sao, con người, chính là nhỏ bé như vậy đấy.

…………

Hai mươi năm sau

Núi Thác Đàn  xuân về tràn ngập sắc hoa, rực rỡ muôn màu, gió núi đượm chút giá lạnh của độ cao vù vù không ngừng, những cánh hoa kiều diễm vươn mình trong gió, đung đưa khoe ra sức sống ngập tràn. Tượng người trên đỉnh núi vẫn nghiêng nghiêng đứng đó, xung quanh được muôn hoa tô điểm càng thêm xinh đẹp động lòng người. Cách tượng đá vài bước có một người đứng, trầm mặc nhìn nơi xa.

Lạc tướng Trường Chinh vừa được phong chức từ Cổ Loa trở về, từ trong nhà dè dặt bước ra đứng sau lưng người đó, cất tiếng chào “Thưa cha con đã về”

“Ừ, thành tích thế nào?” Người đứng đó – Kinh Trường lạc tướng năm xưa – không quay lưng lại, chỉ lên tiếng hỏi

Trường Chính cúi đầu, khó khăn nói “Con được phong làm lạc tướng, giao nhiệm vụ trấn giữ Lũy Tình”

“Tốt lắm” Kinh Trường dường như không nghe ra khổ sở trong lời con trai, trút ra một hơi thở thật dài, nhẹ nhõm nói “Vậy thì cha yên tâm rồi, sau này Lũy Tình do anh giữ gìn, mọi việc phải tận lực, không được quên trách nhiệm của mình”

Trường Chinh lặng thinh rơi nước mắt, quỳ trên đất cầu xin “Xin cha nghĩ lại, con trai còn cần cha dạy dỗ nhiều điều”

Kinh Trường thở dài, quay đầu lại nhìn con trai. Đôi mắt sáng rực hữu thần năm xưa đã nhuốm lên màu của phong sương, tràn đây mỏi mệt. Chàng nhìn con, lại không đành lòng, quay mặt đi nói “Không cần ngăn cha, anh đã lớn, rồi sẽ có lúc anh tìm được một người anh không thể xa rời, cuộc sống sẽ không còn tịch mịch. Phận người nước Nam chẳng mấy khi thanh nhàn, thân là lạc tướng, đến lúc đất nước cần thì không được luyến tiếc, cần làm cái gì nhất định phải làm cho tốt. Nhưng hãy nhớ, trước lúc ra đi, đừng quên nói cùng người ấy một câu xin lỗi …”

“Cha …” Trường Chinh gọi một tiếng rồi thôi, nức nở quỳ trên đất khóc. Ngày này đã biết sớm muộn sẽ đến, nhưng không thể tránh được thương đau ngập tràn.

Có tiếng xé gió vang vang truyền đến, sau đó là Thanh Duy mang theo vợ cùng hai con trai hạ xuống đỉnh núi. Vu nữ Chỉ Nguyệt đã khóc đến sưng cả mắt, đáp xuống rồi lại chỉ tiếp tục đứng đó khóc, không biết phải nói gì. Hai con trai của Thanh Duy là Thất Phong và Thất Vũ vội chạy đến an ủi Trường Chinh. Thanh Duy dỗ dành Chỉ Nguyệt, thở dài nói “Anh không nghĩ lại sao? Trường Chinh còn nhỏ như vậy”

Kinh Trường quay lại nhìn một nhà mới tới, nhè nhẹ lắc đầu “Đừng cản tôi. Con trai sau này nhờ em trông nom giúp”

Thanh Duy gật đầu, lại không biết nói cái gì tiếp theo. Kinh Trường nhìn con trai thêm một lần cuối, mỉm cười, xoay người bước lại gần tượng đá.

Trường Chinh thét lên rồi gục đầu trong lòng Thất Phong khóc nức nở, Chỉ Nguyệt lại suýt nữa thì ngất xỉu, Thanh Duy ôm lấy nàng, cũng không kìm được rơi nước mắt. Kinh Trường thoáng nghe tiếng khóc của mọi người, trong lòng lại một mảnh bình thản. Năm xưa Cố Bình từng nói, làm xong trách nhiệm của một lạc tướng, trách nhiệm của một người cha, chàng liền có quyền làm gì tùy ý. Con trai đã qua được nghi thức trưởng thành, Lũy Tình đã có người trấn giữ, mọi chuyện đều xong, chàng đã có thể đến cùng Châu Nghi.

Không chút do dự bước vào thừng trận, nắm lấy tay Châu Nghi, cùng nàng hướng về một phía, thân thể Kinh Trường chậm rãi thạch hóa, cảm giác lạnh lẽo lan từ chân lên, sau đó ý thức dần dần rơi vào bóng tối.

Qua ngày hôm đó, tượng đá trên đỉnh Thác Đàn biến thành một đôi, mối tình thủy chung son sắc ấy trở thành giai thoại, mãi mãi lưu truyền về sau. Câu chuyện ấy so với lịch sử của đất nước này chỉ là một khoảnh khắc xinh đẹp nhưng ngắn ngủi, thoáng cái đã qua, nhưng dấu ấn của nó, theo đôi tượng đá trường tồn giữa đất trời cùng cái tên Lũy Tình qua bao thời đại chưa từng thay đổi, mà vĩnh viễn không bị xóa mờ.

…………………..

  • Ải Chi Lăng là một vùng thung lũng tạo ra từ hai quả dãy núi gần như khép kín, cửa ra vào phía Bắc là Quỷ Môn Quan, phía nam là Ngõ Thề
  • Sơn Tinh được biết tên thật là Nguyễn Tuấn, tuy nhiên cái tên này không phù hợp với thời đại Hùng Vương vốn không có họ cho nên ta không dùng. Hơn nữa trong truyện vu sư, Sơn Tinh và Thủy Tinh là một kiểu danh hiệu, chức vụ truyền qua nhiều thế hệ chứ không phải chỉ một người cụ thể nào. Tên của Thủy Tinh là ta đọc trong một truyện do một người khác viết, hình như tên là Văn Lang Đồng Thoại thì phải, không có đọc hết truyện nên không nhớ rõ lắm, cảm thấy cái tên hay nên dùng luôn
  • Thừng trận ở đây là trận pháp đặc thù của vu sư. Ý tưởng về nó xuất phát từ một đoạn nhỏ do người TQ viết về nhà nước Văn Lang rằng thời đó nhà nước quản lý theo kiểu thắt nút. Tôi tìm kiếm một hồi lại ra ngôn ngữ nút thắt của người Inca. Đọc sơ qua phần giới thiệu về chúng, tôi quyết định đó sẽ là trận pháp của vu sư nhà tôi, có đủ thú vị không? Thừng trận được làm từ một loại linh thừng đặc biệt chỉ có các vu sư mới biết (chưa có nghĩ xong phần này nên đừng hỏi chi tiết thêm), có nhiều loại tùy thừng trận cần lập, kích thước cũng khác nhau. Các vu sư sẽ thắt nút chúng lại với nhau theo một trình tự riêng cho mỗi trận, mỗi kiểu nút thắt đều khác nhau và có tác dụng khác nhau. Thừng trận có thể rất lớn như trận bảo vệ toàn bộ Đại Việt, mỗi chiến lũy chính là một nút thắt hoặc là rất nhỏ bằng một đồng xu để làm ra hiệu ứng trên đồ dùng linh tinh
  • Vu sư chi làm hai loại, vu binh và vu sư, đại loại là cận chiến và thi pháp từ xa, như cũ là chưa có hoàn thiện cho nên đừng hỏi thêm. Vu binh không linh hoạt như vu sư, cho nên đi đường vẫn phải cưỡi ngựa
  • Cuối cùng, truyện này là dựa theo cảm hứng từ bài hát Hòn Vọng Phu 3 do ca sĩ Ánh Tuyết trình bày, đọc xong ngồi nghe thử xem có khớp không nha

http://mp3.zing.vn/bai-hat/Hon-Vong-Phu-3-Anh-Tuyet/ZWZ9ZZCW.html

 

Advertisements

2 thoughts on “[Vu Sư] Ngàn dặm xa xăm

  1. Bạn tả cảnh với tâm trạng hay quá. Mình bội phục trí tưởng tượng của bạn. Những tên nhân vật đều có cảm giác quen thuộc. Cố lên bạn

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s